Tôi sinh ra trong một gia đình họ Hồ, lớn lên trong những câu chuyện rì rầm bên ấm chè trà của các bậc cao niên, nơi mà hai tiếng dòng họ không bao giờ là khái niệm trừu tượng. Với tôi, họ Hồ không chỉ là một cái họ để ghi vào giấy khai sinh, mà là một mạch nguồn chảy âm thầm, bền bỉ trong huyết quản mạch nguồn của lịch sử, của khí phách và của lòng tự trọng.
Thuở thiếu thời, tôi từng hồn nhiên mà hãnh diện khoe với bạn bè: họ Hồ chúng tôi có Hồ Quý Ly, có Quang Trung (Hồ Thơm), có những bậc trụ cột triều đình như Hồ Sỹ Dương, Hồ Sỹ Đống, có nhà cách mạng tiền bối Hồ Tùng Mậu… Danh sách ấy, càng kể càng dài, niềm tự hào cứ thế mà lớn lên cùng năm tháng.
Rồi một ngày, trong câu chuyện tưởng như vu vơ của các cụ, tôi nghe thêm một điều khiến lòng mình không yên: Cố Tổng Bí thư Lê Duẩn người con kiệt xuất của dân tộc cũng có gốc tích từ họ Hồ. Lúc đầu, tôi nghe mà bán tín bán nghi. Nhưng khi biết ông Lê Kiên Thành, con trai Cố Tổng Bí thư, nhiều lần về Nhà thờ họ Hồ Đại Tộc Quỳnh Đôi dâng hương, trong tôi đã nhen lên một câu hỏi lớn: Nếu đúng như vậy, thì đây không chỉ là niềm tự hào riêng của một dòng họ, mà là sự tiếp nối kỳ lạ của lịch sử.
Tính tôi vốn vậy: chuyện họ, chuyện tổ tiên đã nghe là phải tìm cho đến nơi đến chốn. Và cơ duyên đã đến trong một chuyến đi dâng hương các nhà thờ họ Hồ ở Hà Tĩnh. Chính tại đây, qua lời giới thiệu của anh Hồ Việt Anh Chủ tịch Hội đồng họ Hồ Hà Tĩnh chúng tôi tìm về Tháp Cẩm Duệ, nơi dân gian quen gọi là Am Tháp.
Con đường về Cẩm Duệ không ồn ào, không phô trương. Nhưng càng đi, cảnh sắc càng gợi mở một không gian linh thiêng: rặng tre làng uốn cong theo gió, đồng lúa thì thầm tiếng thì thầm ngàn năm. Tháp Cẩm Duệ hiện ra trên dải đất cao, tứ linh hội tụ, vừa trang nghiêm vừa gần gũi như chính cách lịch sử tồn tại trong đời sống người Việt: không phô trương, nhưng bền bỉ.
Những cặp voi đá, ngựa đá đứng trấn giữ trước cổng tháp không chỉ là hiện vật kiến trúc, mà là chứng nhân lặng lẽ của bao lớp thời gian. Câu đối khắc trên trụ đá “Công đức tại nhân nhất phiến thạch / Nguyên lưu chung cổ Tam Tích Giang” đọc lên mà thấy rưng rưng. Công đức không mất, nguồn cội không phai. Đá còn ghi, nước còn chảy, thì con người không thể quên.
Rời Am Tháp, tôi tìm đến Bảo tàng Hà Tĩnh, lần giở từng trang “Lý lịch di tích kiến trúc nghệ thuật Tháp Cẩm Duệ”. Và rồi, mọi mối nghi ngờ tan biến. Gia phả, truyền tích, tư liệu lịch sử đều thống nhất một điều: họ Lê ở Cẩm Duệ vốn khởi từ họ Hồ, mà ông tổ là Hồ Tiết Lăng người vì thời cuộc mà đổi họ, nhưng không đổi gốc.
Huyết mạch đổi tên – mệnh trời chưa dứt
Theo truyền phả của họ Lê xã Cẩm Duệ, gốc tích xa xưa của dòng họ này vốn khởi từ họ Hồ. Ông tổ là Hồ Tiết Lăng, người sinh sống nơi vùng biển Kỳ La, giữa thời đoạn lịch sử đầy biến động. Đó là những năm tháng đen tối sau khi triều Hồ sụp đổ, khi Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương lần lượt sa vào tay giặc Minh. Giữa cơn dâu bể ấy, Hồ Tiết Lăng đã chọn một con đường vừa đau đớn vừa tỉnh táo: đổi họ để giữ gốc. Ông mang vợ rời vùng biển, ngược lên miền rừng núi Đá Bạc, Kẻ Gỗ, ẩn mình giữa non xanh, lấy nghề trồng chè, chăn trâu nuôi sống qua ngày. Tên họ có thể đổi, nhưng huyết mạch thì không. Lửa có thể vùi trong tro, song than hồng thì vẫn âm ỉ cháy.
Thời gian lặng lẽ trôi. Sáu mươi năm trời, mái đầu hai ông bà đã đốm bạc, mà trong nhà vẫn hiu quạnh tiếng trẻ thơ. Không con nối dõi, không người dưỡng lão, nhưng hai ông bà không oán trời, không trách đất. Trái lại, càng già, lòng thiện càng sâu. Họ mở cửa cho người dưng tá túc, chia bát cơm, chén nước cho kẻ đường xa, coi việc thiện như phúc phần gửi lại mai sau.
Rồi một ngày, giữa rừng sâu Kẻ Gỗ, năm người khách lạ phương Bắc xuất hiện, xin ở nhờ hai năm trời. Hai năm ấy, gian nhà nhỏ trở thành nơi nương náu, không hỏi quê quán, không đòi công xá. Đến ngày chia tay, năm người khách đặt tiền trả ơn, nhưng ông bà nhất quyết lắc đầu. Đêm ấy, họ lặng lẽ rải tiền dưới rạp giường, trải chiếu lên trên rồi rời đi không một lời từ biệt.
Sáng ra, thấy tiền, hai ông bà bàng hoàng. Biết người lạ mang ơn, ông bà ôm tiền đuổi theo. Đến chợ Vực, gặp năm người khách đang ngồi uống nước, ông bà khăng khăng trả lại. Năm người nhìn nhau, không nói, rồi cùng đứng dậy, quay lại căn nhà nhỏ giữa rừng. Tại đó, họ bảo Hồ Tiết Lăng lên rừng chặt gỗ dâu, làm quan tài. Trong ba ngày liền, năm người làm lễ chiêu hồn, nhập mộ, rồi cải táng mồ mả tổ tiên họ Hồ vào huyệt nước vùng Đá Bạc. Trước khi rời đi, họ chỉ nói một câu ngắn gọn mà như lời sấm:
“Mạch này đặt đúng, phúc sẽ trổ về con cháu.”
Rồi họ biến mất, không dấu vết.
Một năm sau, điều kỳ diệu xảy ra. Người vợ ngoài sáu mươi mang thai, sinh con gái đầu lòng Lê Thị Thân. Năm kế tiếp, ở tuổi 62, bà sinh con trai Lê Am. Năm 63 tuổi, sinh tiếp Lê Mậu Tài. Năm 64 tuổi, lại thêm một người con nữa. Gian nhà từng lặng im bỗng vang tiếng trẻ khóc, như thể mạch nguồn vừa được khai thông sau bao năm bị chặn lại.
Cũng vào thời đoạn ấy, non sông dậy sóng. Lê Lợi dấy nghĩa Lam Sơn, chống giặc Minh. Nghệ An – Hà Tĩnh trở thành địa bàn chiến lược. Một ngày hè, một vị quan cưỡi ngựa trắng, dẫn quân Lam Sơn ghé vùng Đá Bạc, tìm gặp cụ Hồ Tiết Lăng hỏi chuyện lập căn cứ. Cụ, người thông thuộc địa thế rừng núi đã chỉ cho nghĩa quân con đường vượt Trà Sơn, sang Rào Tre, mở căn cứ Phú Lễ (Hương Khê), góp phần quan trọng cho thắng lợi sau này.
Khi giặc tan, nước yên, triều Lê xét công. Ba người con trai của Hồ Tiết Lăng đều được đưa ra Thăng Long học hành, làm quan. Lê Am, nhờ đức độ và công lao, được vua cho chọn sinh phần. Ông chọn dải đất cao bên sông Ngàn Mọ, nơi mạch nguồn hội tụ, nơi dòng họ Hồ từng mai danh đổi họ mà sinh sôi, nảy nở.
Triều đình cho dựng Am Tháp. Huyệt âm đào sâu mười thước, xoáy ốc như lòng đất ôm lấy linh cốt. Tháp đá, tượng Phật, voi đá được chở từ xa về. Một con voi đá chìm giữa sông, để lại địa danh Bến Voi, như dấu ấn thiêng còn nằm lại với đất này.
Lê Am mất ở Thăng Long, linh cữu được đưa về quê. Truyền rằng khi linh cữu đến Am Tháp, dân làng chưa kịp chuẩn bị, phải chờ ba ngày mới nhập mộ như thể đất trời cũng cần thời gian để mở cửa đón người trở về. Nhà vua phong ông làm Phúc thần, thành hoàng làng Phương Cai. Mỗi năm đến ngày 26 tháng 6 âm lịch, dân cả vùng lại về Am Tháp cúng lễ.
Từ Am Tháp ấy, dòng họ Lê Mỹ Duệ lớn dần, hiển đạt dần, rồi lại một lần nữa rẽ sóng lịch sử, theo bước chân mở cõi vào Bích La Triệu Phong Quảng Trị. Và chính từ nhánh mạch ấy, nhiều thế kỷ sau, sinh ra Cố Tổng Bí thư Lê Duẩn người con kiệt xuất của dân tộc.
Như vậy, họ có thể đổi tên, làng có thể đổi chỗ, nhưng mạch nguồn thì không bao giờ mất. Lịch sử chỉ tạm che bằng sương khói, để rồi đến lúc, tự nó lại hiện hình – trầm tĩnh, bền bỉ và thiêng liêng.
Từ mạch âm thầm của đất đến bước chân của lịch sử
Có những mạch nguồn không ồn ào, không tự xưng tên, nhưng cứ lặng lẽ chảy qua nhiều thế kỷ, băng qua những lần đổi họ, dời làng, vượt núi băng sông, để rồi đến một thời điểm nào đó, lịch sử bỗng dừng lại rất khẽ… và gọi đúng tên.
Nhìn lại câu chuyện của Am Tháp Cẩm Duệ, của huyệt âm xoáy ốc chôn sâu trong lòng đất Đá Bạc, của một dòng họ từng phải đổi họ để giữ lấy huyết mạch, người ta mới hiểu: có những phúc phần không đến ngay, nhưng đã đến thì đến rất xa. Đó không phải là sự ngẫu nhiên của số phận, mà là kết quả của đức dày, của lòng thiện tích tụ qua nhiều đời người.
Từ Hồ Tiết Lăng người chọn ẩn mình giữa rừng sâu để giữ mạch tổ tiên, đến những người con phò vua giúp nước, rồi những nhánh họ theo bước mở cõi xuôi vào phương Nam… tất cả như những con suối nhỏ, tách ra rồi lại nhập về một dòng sông lớn. Dòng sông ấy mang theo ký ức của đất, của người, của một dòng giống từng bị lịch sử thử thách đến tận cùng.
Và rồi, nhiều thế kỷ sau, từ chính nhánh mạch tưởng như đã rẽ xa ấy, lịch sử Việt Nam lại ghi thêm một cái tên làm rung chuyển thời đại. Khi người con ưu tú ấy trở về Am Tháp, cúi đầu trước tổ tiên, ấy không chỉ là một cuộc hồi hương riêng tư, mà là cuộc gặp gỡ lặng lẽ giữa hiện tại và cội nguồn. Như thể đất trời Cẩm Duệ đã chờ đợi khoảnh khắc ấy từ rất lâu, để xác nhận rằng: mạch xưa chưa từng đứt, chỉ là âm thầm chảy dưới lớp trầm tích thời gian.
Từ Am Tháp nhìn ra, con đường lịch sử bỗng trở nên liền mạch đến lạ. Những gì tưởng chỉ là truyền tích, hóa ra lại là nền móng. Những gì từng bị che khuất bởi sương khói, đến lúc lại hiện hình rõ nét. Và khi ấy, niềm tự hào không còn là cảm xúc riêng của một dòng họ, mà trở thành sự lắng đọng chung của lịch sử dân tộc.
Càng đi sâu tìm hiểu, tôi càng thấm thía một điều giản dị mà thiêng liêng: người có gốc thì mới có ngọn, người biết cội nguồn thì mới hiểu mình là ai. Với tôi – một người con họ Hồ việc lần tìm gốc tích Cố Tổng Bí thư Lê Duẩn không phải để “nhận họ”, càng không phải để tự huyễn hoặc niềm kiêu hãnh. Đó là hành trình của lòng thành, của đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, của niềm tin rằng lịch sử dân tộc không đứt đoạn, mà luôn được tiếp nối bằng những con người cụ thể, bằng xương bằng thịt.
Tự hào không phải để ngẩng cao đầu với thiên hạ, mà để cúi thấp mình hơn trước tổ tiên. Và khi đã hiểu rằng trong huyết mạch họ Hồ có cả những bước thăng trầm của lịch sử, cả những con người đã hiến dâng trọn đời cho đất nước, tôi càng thấy mình phải sống cho xứng đáng hơn xứng với họ, với tổ, và với non sông.
Bởi sau cùng, dòng họ sinh ra con người và con người có thể làm rạng danh dòng họ. Và đó mới là điều mà tổ tiên, từ Am Tháp Cẩm Duệ đến những trang sử hiện đại, lặng lẽ gửi gắm cho con cháu hôm nay

Tác giả : Hồ Ngọc Quang






